1. Các bệnh rối loạn sắc tố da ở trẻ em – Báo cáo viên: BS CKI Vũ Thị Thu Hạnh, Phó Khoa Huyết học thần kinh.
2. Tiêu chảy kéo dài – BCV: BS CKI Đặng Công Chánh, Trưởng Khoa Tiêu hóa

Quang cảnh buổi hội thảo
Mở đầu buổi hội thảo là phần trình bày của BS CKI Vũ Thị Thu Hạnh. Trong các bệnh rối loạn sắc tố da ở trẻ, BS Hạnh đã chia ra 2 trường hợp:
- Trường hợp giảm sắc tố có các dạng sau:
+ Vảy phấn trắng (Pityriasis alba)
+ Bạch biến (vitiligo)
+ Bạch tạng (Oculocutaneous albinism)
+ Giảm sắc tố sau viêm (Postinflammatory hypopigmentation)
+ Bớt giảm sắc tố bẩm sinh (Nevus depigmentosus)
- Trường hợp tăng sắc tố có các dạng:
+ Bớt mông cổ (Mongolian spot)
+ Bớt Ota (Nevus of Ota)
+ Bớt I to (Nevus of Ito)
+ Mảng café sữa (Café au lait macules).
Theo BS Hạnh, ở trường hợp giảm sắc tố da, người ta thường chẩn đoán phân biệt Vảy phấn trắng với: Bạch biến, Bệnh Phong và Giảm sắc tố sau viêm. Trong khi đó Bạch biến thì thường gặp ở mọi lứa tuổi từ 10-30 tuổi, đa số là dưới 20 tuổi. Bệnh gặp ở mọi chủng tộc, gặp nhiều ở người da đen. Nguyên nhân của Bệnh Bạch biến chưa rõ, đây là hiện tượng sắc tố da bị rối loạn do sự phá hủy và mất đi của tế bào sinh hắc tố. Đã có một số nghiên cứu nghi do di truyền và tự miễn dịch. Ngoài ra, rối loạn thần kinh, xúc động, căng thẳng, rối loạn chức năng tuyến giáp, thượng thận, tuyến yên, tuyến sinh dục cũng tăng nguy cơ gây bệnh. Khác với Bạch biến, Bạch tạng xuất hiện lúc mới sinh và gặp ở mọi chủng tộc trên thế giới.

BS CKI Vũ Thị Thu Hạnh trình bày chuyên đề: “Các bệnh rối loạn sắc tố da ở trẻ em”.
Nguyên nhân của Bệnh Bạch tạng là do sự thiếu hụt toàn bộ melanin da, tóc, móng, và là một dạng đột biến gen lặn, hiện chưa có thuốc điều trị. Trường hợp Giảm sắc tố da sau viêm cũng xảy ra ở mọi lứa tuổi. Nguyên nhân của trường hợp này là do giảm tạo melanin sau các bệnh da bị viêm như: chàm, vảy nến, phỏng, bệnh bóng nước, nhiễm trùng. Ngược lại, Bớt mất sắc tố bẩm sinh là trường hợp bẩm sinh hiếm gặp, xuất hiện lúc sinh hoặc thời thơ ấu. Cả 2 trường hợp này đều không cần điều trị. Bên cạnh đó, Bớt mông cổ thì luôn xuất hiện ở vùng da thắt lưng và mông, do sự tăng sắc tố màu xanh đen xuất hiện ngay sau sanh. Loại bớt này thường tự thoái lui trong 4 năm đầu hoặc tồn tại suốt đời. Bớt Ota, Bớt Ito và Mảng café sữa thì xuất hiện rất sớm sau khi sinh, có xu hướng biến mất khi trẻ lớn lên. Tất cả trường hợp trên đều được BS Hạnh trình bày kèm hình ảnh minh họa rất sinh động.
Tiêu chảy kéo dài (TCKD) là chuyên đề tiếp theo, qua phần trình bày của BS CKI Đặng Công Chánh. Theo BS Chánh, gọi là TCKD khi có đợt tiêu chảy từ 14 ngày trở lên, trong đó không có 2 ngày liền ngừng tiêu chảy. Đặc điểm của bệnh là niêm mạc ruột tổn thương gây tiêu chảy kém hấp thu, nhiễm trùng và suy dinh dưỡng, làm niêm mạc ruột khó phục hồi. Tuổi chủ yếu của TCKD là trẻ dưới 24 tháng tuổi, về mùa thì tương đương như mùa của tiêu chảy cấp. Tần suất mắc TCKD cao nhất là 6 đến 24 tháng tuổi. Ngoài ra, suy dinh dưỡng, các bệnh lý nhiễm trùng trước đó, hoặc sử dụng thuốc trong giai đoạn tiêu chảy có thể là yếu tố thuận lợi cho TCKD. Một câu hỏi đặt ra: yếu tố tiên lượng để đợt tiêu chảy cấp trở thành TCKD, đó là: số lần tiêu chảy và có hồng cầu, bạch cầu trong phân.

BSCKI Đặng Công Chánh trình bày chuyên đề: “Tiêu chảy kéo dài”
Cũng theo BS Chánh, các yếu tố gây bệnh tiếp tục sẽ làm tổn thương thành ruột và sự hồi phục chậm của niêm mạc ruột. Vậy làm thế nào để phân loại TCKD? BS Chánh chia sẻ, TCKD nặng là có một trong các vấn đề như: suy dinh dưỡng nặng, nhiễm trùng huyết, mất nước, viêm phổi, hoặc trẻ dưới 2 tháng tuổi; ngược lại nếu không có một trong các vấn đề trên là TCKD không nặng. BS Chánh còn lưu ý về nguyên tắc, hướng điều trị, việc theo dõi và xử trí khi trẻ bị TCKD, và kèm bảng hướng dẫn điều trị nội, ngoại trú cho trẻ bị TCKD.
Tại Bệnh viện Nhi đồng Đồng Nai, hàng tháng đều có tổ chức các buổi Hội thảo chuyên đề. Đây là một hoạt động nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Ban Giám đốc, nhằm tạo sự cập nhật và trao đổi kinh nghiệm điều trị của đội ngũ bác sỹ trong toàn viện.
CN Hồ Thị Thanh Thuận
T3G P. CTXH