Quá trình thoái hóa (bít kín) không hoàn toàn của ống phúc tinh mạc (OPTM) ở trẻ em sẽ gây ra các bệnh lý thoát vị bẹn (TVB), tràn dịch tinh mạc (TDTM) hay nang nước thừng tinh (NNTT).

   Ở thời kỳ bào thai, tinh hoàn nằm ở dưới thận, vùng bụng. Trong quá trình tinh hoàn di chuyển trong ống bẹn xuống dưới bìu sẽ kéo theo lớp phúc mạc bao quanh nó, tạo thành một cấu trúc hình ống gọi là OPTM. Sau khi tinh hoàn xuống bìu, OPTM này bị bít lại trở thành một dây xơ. Đầu xa của dây này trở thành một lớp màng mỏng bao quanh tinh hoàn. Bình thường ổ bụng không thông thương với vùng bẹn bìu. Các tạng cũng như dịch trong ổ bụng không thể xuống được màng tinh hoàn. Nếu OPTM không được đóng kín, trẻ sinh ra còn OPTM.

   Nếu đường kính của OPTM nhỏ và chỉ đủ cho dịch trong ổ bụng chảy qua sẽ gây ra TDTM (Hình 1.3, 2. 3) hay NNTT (Hình 1.4, 2.2).

TDTM thông thương khi OPTM tồn tại, đường kính nhỏ và dịch trong ổ bụng chảy xuống bao quanh tinh hoàn.

TDTM không thông thương khi có dịch bao quanh tinh hoàn nhưng không còn sự thông thương bên trong OPTM. Loại này thường gặp ở trẻ sơ sinh, dịch thường được hấp thu hết khi trẻ được một tuổi.

TDTM phản ứng cũng không còn sự thông thương trong OPTM, dịch bắt nguồn từ tình trạng phản ứng ở vùng bìu (do nhiễm trùng hay chấn thương).

   Nếu OPTM nhỏ, bít từng đoạn và dịch trong ổ bụng tụ lại dần thành NNTT (Hình 1.4, 2.2). Ở trẻ gái gọi là nang nước ống Nuck.

   Nếu đường kính OPTM lớn, ruột, mạc nối lớn, buồng trứng, vòi trứng trong

ổ bụng có thể thoát xuống và gây ra TVB (Hình 1.1, 1.2, 2.1). Ở trẻ gái gọi là thoát vị ống Nuck (Hình 2.4). Các tổn thương này có khi gặp ở cùng một trẻ.

   TVB thường gặp gấp 20 lần ở trẻ sinh non, cân nặng dưới 1500g so với trẻ đủ tháng. Trẻ trai thường gặp hơn trẻ gái, 60% gặp ở bên phải, 25% gặp ở bên trái và 15% ở hai bên.  Cha mẹ thấy một bên bẹn hay bìu của trẻ to hơn so với bên kia hoặc cả hai bên đều phình to bất thường. Dấu hiệu này có thể xuất hiện ngay sau sinh hay vài tháng, vài năm sau. Thường xuất hiện sau khi có tình trạng tăng áp lực trong ổ bụng: trẻ khóc, ho, rặn đi vệ sinh, chạy nhảy; mất khi trẻ nằm yên, khi ngủ và thường không đau (Hình 2.1, 2.4).

   TDTM biểu hiện là một bìu to, màu hơi xanh, không đau và có khi căng to. Kích thước thay đổi theo thời gian, có khi theo các đợt nhiễm siêu vi hay nhiễm trùng đường hô hấp. Trong trường hợp TDTM thông thương, khối phồng này có thể xẹp khi nắn ép bằng tay (Hình 2.3). 

   NNTT biểu hiện là một hòn nhỏ trên đường đi của thừng tinh, tách biệt rõ với tinh hoàn làm cha mẹ nhằm trẻ có ba tinh hoàn.  Kích thước thay đổi và có khi căng to như TDTM (Hình 2.2).

   Bác sĩ chuyên khoa sẽ giúp phân biệt với một số bệnh lý khác như: xoắn tinh hoàn, viêm mào tinh hoàn-tinh hoàn, viêm tấy vùng bẹn bìu, u mỡ,…

   Khoảng 20% trẻ bị TVB có thể bị TVB nghẹt ở bất kỳ tuổi nào, thường ở trẻ nhỏ và khoảng 60% xảy ra trong ba tháng đầu sau sinh. Cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay khi: trẻ đau nhiều vùng bẹn-bìu, buồn nôn và nôn, không trung- đại tiện được, khối phồng không mất khi nắn ép. Biến chứng nghẹt làm tổn thương các tạng trong bao thoát vị; giảm lượng máu nuôi sẽ làm tổn thương tinh hoàn cùng bên ở bé trai, vòi trứng và buồng trứng ở bé gái (Hình 3); những trường hợp trẻ đến muộn có thể gặp biến chứng sốc nhiễm trùng do tổn thương ống tiêu hóa, nguy cơ tử vong cao.

   TVB cần phát hiện sớm, phẫu thuật khi có chẩn đoán để tránh cho trẻ bị các biến  

chứng của TVB nghẹt.

   TDTM và NNTT là những tổn thương lành tính, có thể khỏi tự nhiên và không bao giờ gây biến chứng. TDTM hay NNTT với bất kỳ kích thước nào, chỉ định phẫu thuật khi trẻ được 12-18 tháng tuổi.

   Trẻ được làm các xét nghiệm tiền phẫu, khám tiền mê, dặn nhịn ăn uống trước phẫu thuật. Gây mê kết hợp với gây tê tại chổ-vùng. Đường mổ mở ngang theo nếp bụng thấp nên sẹo thường ít thấy (Hình 4.1, 4.2). Cột cắt OPTM, với NNTT và TDTM phải thoát dịch trong OPTM. Phẫu thuật từ 15-30 phút, rất ít biến chứng. Thông thường trẻ có thể về trong ngày, tuy nhiên với trẻ sơ sinh, trẻ đẻ non và những trường hợp đặc biệt trẻ có thể phải ở lại thêm một ngày để theo dõi. Thường trẻ ăn uống, vận động lại bình thường ngay sau mổ.

   Một số trung tâm điều trị TVB ở trẻ em bằng phẫu thuật nội soi ổ bụng.

                                                                        BS. Phan Trần Đức

                                                 Khoa Ngoại Tổng hợp - BV. Nhi đồng Đồng nai

Chỉnh sửa lần cuối vào Saturday, 02 April 2016 08:55
Đánh giá bài này
(10 bình chọn)
Bệnh Viện Nhi Đồng Đồng Nai

Tập thể nhân viên Bệnh viện Nhi Đồng tỉnh Đồng Nai, với tấm lòng yêu trẻ, yêu nghề, và chuyên môn cao sẵn sàng phục vụ các bệnh nhi.

Mọi thông tin xin liên hệ:
Email: info@benhviennhidongnai.org.vn
Số điện thoại: 02513.891500

LIÊN KẾT

     

      

benhvien8